|

Sense relations are paradigmatic relations between words or predicates of the same syntactic categories, which can replace one another without violating the grammatical rules; or in other words, those relations reveal the semantic choices available at a particular structure point in a sentence. The term “paradigmatic relations” introduced by Louis Hjelmslev is distinguished from “syntagmatic relations” which reflect the relations of combined elements in a sentence to create coherent limitation between them (1).
|
|
Đọc thêm... [Sense relations and Vocabulary teaching]
|
|
Bạn có biết vốn từ của mình được chia thành 2 nhóm: từ chủ động (active vocabulary) và từ bị động (passive vocabulary). Từ chủ động bao gồm những từ vựng bạn thường dùng trong khi viết hoặc nói. Còn từ bị động là nhóm bạn không thường xuyên dùng nhưng vẫn hiểu khi bạn gặp trong lúc đọc và nghe. Từ chủ động bao gồm các dụng từ hay từ cấu trúc (structural word) và thể từ hay từ mang nghĩa (lexical word). Dụng từ bao gồm các đại từ, giới từ, từ nối. Còn thể từ chính là các danh từ, động từ, tính từ, và trạng từ. Từ bị động chủ yếu là các thể từ. Tỉ lệ từ chủ động và từ bị động là 1:6.
Để có thể giao tiếp khi sinh sống tại một nước nói tiếng Anh, chúng ta cần khoảng 3000-5000 từ thông dụng. Kỳ thi TOEFL cũng đánh giá năng lực sử dụng của người học về những từ này. Do vậy, TOEFL thường được các trường đại học dùng để tuyển sinh viên mà tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Anh. Khi đã nắm được các từ thông dụng, người học nên sử dụng từ điển Anh-Anh. Từ điển Anh-Anh có phần định nghĩa từ mới bằng tiếng Anh xây dựng từ 2000 từ vựng thông dụng được chọn lọc kỹ càng để giải thích nghĩa của một từ khác. 2000 từ vựng này cũng nằm trong số 3000 từ nói trên.
Một bài thi khác là GRE đòi hỏi bạn phải có thêm 3500 từ nữa để có thể vượt qua được kỳ thi cao học tại Mỹ và Canada. Những từ này xuất hiện thường xuyên trong các bài viết của các học giả ví dụ như nghiên cứu.
Cuối cùng, mặc dù bạn có thể được điểm cao ở kỳ thi TOEFL và GRE nhưng vẫn gặp phải những khó khăn ngôn ngữ. Đó là do bạn chưa có đủ vốn từ về văn hóa và con người không hề được đề cập đến trong sách vở. Chúng ta chỉ có thể học những từ này khi sống trong môi trường nói tiếng Anh.
|
|
Đọc thêm... [Những điều chưa biết về từ vựng]
|
|
Trong các lớp của Equest, đặc biệt là lớp đào tạo tiếng Anh cơ bản (FAE) hoặc TOEIC, hầu như đều có sự hiện diện của những học viên lớn tuổi. Họ có thể là những công chức đi học tiếng Anh để lấy chứng chỉ theo yêu cầu của nơi đang công tác, là một người mẹ học tiếng Anh để có thể ra nước ngoài chăm sóc đứa con đang du học, hay đơn giản là học để ôn lại những kiến thức một thời nay không muốn bỏ phí. Họ có thể là trưởng phòng, là nhân viên, là bà nội trợ bình thường, có thể khó tính và trầm lặng, dễ tính và vui vẻ, nhưng tựu chung lại họ đều có những điểm chung sau:
Một là thái độ học tập.
Gần như 100% các học viên lớn tuổi đều rất nghiêm túc và chăm chỉ. "Họ thường mang đến lớp học những kinh nghiệm của cuộc sống và một độ chín chắn nhất định mà trẻ con và thanh niên không có." (Hammond et al, (1992) Nếu mỗi khi giao bài về nhà phải hô hào, nhắc nhở, thậm chí đe dọa đủ kiểu để các học sinh còn đang "tuổi ăn tuổi lớn" nộp bài đầy đủ, thì những học viên lớn tuổi trong lớp luôn luôn nộp bài đúng deadline, thậm chí trước vài ngày. Nếu các học sinh nhỏ tuổi chỉ "nhăm nhe" có cơ hội là gọi cô giáo trẻ bằng "chị", thậm chí bằng... "bạn", thì các học sinh lớn tuổi ra khỏi lớp vẫn 1 điều "cô giáo", 2 điều "cô giáo". Các giáo viên hãy biết tận dụng những "tấm gương" này để thúc đẩy tinh thần học tập của cả lớp.
|
|
Đọc thêm... [Vài lời khuyên khi dạy các học viên lớn tuổi]
|
|
Ngạn ngữ Ấn Độ có câu: “Cho tôi một thông tin và tôi sẽ học. Nói với tôi một sự thật và tôi sẽ tin. Nhưng kể cho tôi một câu chuyện thì tôi sẽ nhớ mãi”. ("Tell me a fact and I'll learn. Tell me the truth and I'll believe. But tell me a story and it will live in my heart forever.")
Từ ngày xửa ngày xưa, các ông đồ chẳng hề dùng bài giảng Powerpoint, máy chiếu, hay thậm chí là bảng trắng để dạy học. Họ chỉ đơn giản chia sẻ với học trò những câu chuyện trong cuộc sống.
Nhớ lại hồi lớp 6 tôi còn ngô nghê trên ghế nhà trường, giờ địa lý luôn là giờ học tôi mong chờ nhất với đôi mắt đầy háo hức và đôi tai dỏng lên sẵn sàng ngấu nghiến từng lời cô nói. Câu chuyện về chuyến phiêu lưu khám phá các đại dương trên thế giới của nhà thám hiểm hàng hải người Bồ Đào Nha, Magellan (Ferdinan Magellan) và nguồn gốc cái tên “biển Bình Yên” (the Pacific Ocean), hay là Thái Bình Dương như chúng ta vẫn gọi, sống mãi trong ký ức tôi cho đến tận bây giờ. Tôi nhận ra một điều thú vị rằng trí nhớ của chúng ta sẽ khắc sâu những câu chuyện, chứ không phải giả thuyết, định nghĩa, hay một ngày tháng lịch sử. Tất nhiên kể chuyện trong giờ học cần phải gắn với sự khám phá thông tin chính của bài. Nhưng không phải lúc nào tầm quan trọng của những thông tin đó cũng khiến cho nó được nhớ mãi. Chính cách truyền tài thông tin mới khiến nó trở nên thú vị đến mức không thể quên được.
Tôi đã thử áp dụng phương pháp này trong các giờ dạy của mình nhằm mục đích cung cấp kiến thức đầu vào cho học sinh (input knowledge) hoặc giải thích một vấn đề theo một cách dễ hiểu. Cách đây không lâu tôi có một giờ dạy nói với chủ đề thiên văn học (astronomy), tôi kể cho học trò của mình câu chuyện cổ tích về hệ mặt trời trong đó lý giải tại sao chỉ duy nhất trái đất của chúng ta (the Earth) trong số 10 hành tinh của hệ mặt trời có sự sống.
Quan sát sự chăm chú của học trò mình và sự thích thú hiển hiện trên gương mặt của các em, tôi càng nhận ra rằng những câu chuyện kể thực sự có ma lực và hữu ích cho công việc giảng dạy của mình. Chúng ta trước khi đến trường học kiến thức chính quy thì đã được học rất nhiều giá trị nhân văn cũng như sự hình thành của vạn vật từ những chuyện cổ tích hay thần thoại. Bất cứ một chuyện nào cũng đều là một phương thức truyền tải thông tin mới mẻ giúp bài học sôi động và đáng nhớ hơn. |
|
|
|
|
|
|
Trang 1 trong tổng số 2 |